Thứ sáu, 30/8/2019 | 09:05 GMT+7

Hoàn thiện Luật Giám định tư pháp

LSVNO - Giám định tư pháp là hoạt động bổ trợ tư pháp, xuất hiện và tồn tại do nhu cầu của hoạt động tố tụng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không thể thiếu trong bất kỳ nền tư pháp nào. Sự tương tác giữa hoạt động giám định và hoạt động tố tụng là một trong những tiêu chí để đánh giá, là yếu tố phản ánh trình độ phát triển hệ thống tư pháp của mỗi quốc gia. Kết quả của hoạt động giám định tư pháp cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng những chứng cứ mang tính khoa học, góp phần giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, đúng pháp luật, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

Ở nước ta, giám định tư pháp trong thời gian gần đây được đặc biệt quan tâm trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Không chỉ trong tố tụng hình dân sự, hành chính mà đặc biệt trong tố tụng hình sự, kết luận giám định tư pháp là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ các tình tiết của vụ án, là cơ sở chứng minh tội phạm, người phạm tội, xác định giá trị thiệt hại (hậu quả) và các vấn đề khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án.

Luật Giám định tư pháp được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013. Để tổ chức thi hành Luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 quy định chi tiết biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1549/QĐ-TTg ngày 16/10/2012 về kế hoạch triển khai thi hành Luật Giám định tư pháp, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, khẩn trương đưa Luật vào cuộc sống, thúc đẩy hoạt động giám định tư pháp phát triển.

5abae9b36af283acdae3-5d6883e42e0b4

 

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Tuy nhiên, thực tiễn trong thời gian qua cho thấy, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác giám định tư pháp vẫn còn hạn chế, vướng mắc làm ảnh hưởng đến thời gian, tiến độ và kết quả giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Việc nghiên cứu một cách tổng thể và sâu sắc về giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng để đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm tháo gỡ các bất cập dưới đây là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Thứ nhất: Hiện nay, về cơ cấu tổ chức hệ thống giám định tư pháp chưa thật sự hợp lý. Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật Giám định tư pháp năm 2012, ở cấp trung ương có tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y (bao gồm: Viện Pháp y quốc gia thuộc Bộ Y tế, Viện Pháp y quân đội thuộc Bộ Quốc phòng, Trung tâm Giám định pháp y thuộc Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an); tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y tâm thần (bao gồm: Viện Pháp y tâm thần trung ương thuộc Bộ Y tế, Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực thuộc Bộ Y tế); tổ chức giám định tư pháp công lập về kỹ thuật hình sự (bao gồm: Viện Khoa học hình sự thuộc Bộ Công an, Phòng Giám định kỹ thuật hình sự thuộc Bộ Quốc phòng). Ở cấp tỉnh có trung tâm pháp y cấp tỉnh; phòng kỹ thuật hình sự thuộc công an cấp tỉnh; phòng kỹ thuật hình sự thuộc công an cấp tỉnh có giám định viên pháp y thực hiện giám định pháp y tử thi.

Như vậy, ở cấp trung ương thì tồn tại song song “ba bộ” (Viện Pháp y quốc gia thuộc Bộ Y tế, Trung tâm Giám định pháp y thuộc Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an và Viện Pháp y quân đội thuộc Bộ Quốc phòng).

Ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trung tâm pháp y thuộc sở y tế và phòng kỹ thuật hình sự thuộc công an cấp tỉnh. Thực tế cho thấy, tổ chức pháp y ngành y tế tại địa phương xét về nguồn nhân lực đã qua đào tạo bài bản, đủ sức đảm đương hoạt động này, chỉ cần Nhà nước tăng cường thêm cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật thì bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ giám định phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tư pháp tại địa phương.

Hơn nữa, cũng có ý kiến cho rằng, ngành công an vừa điều tra vừa thực hiện luôn việc giám định là không phù hợp, dễ dẫn đến việc kết luận giám định không bảo đảm tính khách quan. Việc đặt cơ quan giám định (bổ trợ tư pháp) dưới sự trực thuộc của cơ quan công an (tư pháp) là trái với nguyên tắc quan hệ độc lập giữa tư pháp với bổ trợ tư pháp.

Thứ hai: Theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật Giám định tư pháp năm 2012: “Người yêu cầu giám định có quyền gửi văn bản yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định. Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không chấp nhận yêu cầu thì trong thời hạn 07 ngày phải thông báo cho người yêu cầu giám định bằng văn bản. Hết thời hạn nói trên hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định, người yêu cầu giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định”.

Căn cứ vào quy định này, trong vụ án dân sự, đương sự có quyền yêu cầu tòa án thụ lý vụ án trưng cầu giám định và nếu trong trường hợp tòa án từ chối trưng cầu giám định thì đương sự có quyền tự yêu cầu giám định.

Thời gian người có yêu cầu giám định thực hiện quyền tự giám định được quy định tại khoản 4 Điều 22 Luật này: “Người yêu cầu giám định chỉ được thực hiện quyền tự yêu cầu giám định trước khi tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm”.

Tuy nhiên, việc đương sự trực tiếp thực hiện yêu cầu giám định tư pháp có thực sự được chấp nhận hay không là vấn đề cần phải xem xét. Bởi, theo điểm e khoản 1 Điều 80 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS), giám định viên: không được tự mình thu thập tài