Thứ năm, 11/10/2018 | 07:08 GMT+7

Một số điểm mới về quyền con người trong việc tạm giữ, tạm giam

LSVNO – Khoản 3 Điều 4 Luật Thi hành tạm giữ tạm giam 2015 (THTGTG) ghi nhận nguyên tắc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam bảo đảm nhân đạo; không tra tấn, truy bức, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

Chế định pháp lý về quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các Quyền dân sự, chính trị (ICCPR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua bằng Nghị quyết 2200A (XXI) ngày 16/12/1966, có hiệu lực ngày 23/3/1976- Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982, trong đó quy định về quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 7); quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm (Điều 9, 10); quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân (Điều 14); quyền được pháp luật bảo hộ chống lại những can thiệp hoặc xúc phạm một cách độc đoán hoặc bất hợp pháp đến đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, danh dự và uy tín (Điều 17)… Pháp luật Việt Nam đã cụ thể hóa các quyền cơ bản của con người theo các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nước.

Tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Cùng với đó, khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định việc giam, giữ người do luật định. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật THTGTG đã được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015 tại kỳ họp thứ 10 và Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2017/NĐ-CP ngày 06/11/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật THTGTG. So với những quy định của Quy chế về tạm giữ, tạm giam thì Luật THTGTG có nhiều nội dung mới, quy định cụ thể, rõ ràng nhằm bảo đảm hiệu quả công tác quản lý giam giữ và phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; đồng thời bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam.

tgiu-5bbe9424349e4

Ảnh minh họa.

Về ngăn ngừa hành vi tra tấn, truy bức, dùng nhục hình được quy định trong Công ước về Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người năm 1987 của Liên hợp quốc, khoản 3 Điều 4 Luật THTGTG ghi nhận nguyên tắc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam bảo đảm nhân đạo; không tra tấn, truy bức, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Bảo đảm cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân nếu không bị hạn chế bởi quy định của pháp luật nhằm bảo hộ quyền của tất cả mọi người, trong mọi hoàn cảnh (kể cả đang trong tình trạng bị giam giữ, tạm giam hoặc đang thi hành án phạt tù)… đều được tôn trọng nhân phẩm, không bị tra tấn, hạ nhục và bảo đảm các điều kiện sống khác.

Về chế độ quản lý, phân loại người bị tạm giữ, tạm giam. Người bị tạm giữ, tạm giam được bố trí theo khu và phân loại thành: người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người chưa thành niên, phụ nữ, người mắc bệnh truyền nhiễm, người thực hiện hành vi phạm tội có tính chất côn đồ… Đặc biệt, trong mỗi khu vực đó, đối tượng là người đồng tính, người chuyển giới, người có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình nhưng chưa được giám định đang chờ kết quả giám định hoặc đang chờ đưa đi cơ sở bắt buộc chữa bệnh được tạm giữ, tạm giam ở buồng riêng nhằm bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của họ… Đối với những người trong cùng một vụ án đang trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử thì không giam giữ chung buồng. Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, do điều kiện thực tế mà nhà tạm giữ, trại tạm giam không thể đáp ứng được yêu cầu giam giữ riêng hoặc để bảo đảm yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử, bảo đảm an toàn cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam thì trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại tạm giam, trưởng buồng tạm giữ đồn biên phòng phối hợp với cơ quan đang thụ lý vụ án quyết định bằng văn bản những người được giam giữ chung.

Về gặp thân nhân, người bào chữa của người bị tạm giữ, tạm giam. Người bị tạm giữ được gặp thân nhân một lần trong thời gian tạm giữ, một lần trong mỗi lần gia hạn tạm giữ; người bị tạm giam được gặp thân nhân một lần trong một tháng. Trong đó, thời gian mỗi lần gặp không quá một giờ; người đến thăm gặp phải xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ xác nhận về quan hệ với người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong trường hợp là thân nhân của họ và việc thăm gặp phải chịu sự giám sát, theo dõi chặt chẽ của cơ sở giam giữ, không làm ảnh hưởng đến các hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền; tuân thủ quy định về thăm gặp. Cơ sở giam giữ quyết định cụ thể thời điểm thăm gặp, thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án về việc thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Luật cũng quy định, đối với người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, tạm giam để thực hiện bào chữa theo quy định của pháp luật tại buồng làm việc của cơ sở giam giữ hoặc nơi người bị tạm giữ, tạm giam đang khám bệnh, chữa bệnh và phải xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ về việc bào chữa. Trong các trường hợp sau thì cơ sở giam giữ không đồng ý cho thăm gặp người bị tạm giữ, tạm giam:

- Thân nhân không xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ xác nhận về quan hệ với người bị tạm giữ, tạm giam hoặc cơ quan đang thụ lý vụ án có văn bản đề nghị không cho người bị tạm giữ, tạm giam gặp thân nhân do thấy có ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giải quyết vụ án và người bào chữa không xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ về việc bào chữa cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

- Trong trường hợp khẩn cấp để bảo vệ an toàn cơ sở giam giữ hoặc để tổ chức truy bắt người bị tạm giữ, tạm giam bỏ trốn.

- Khi có dịch bệnh xảy ra tại khu vực có cơ sở giam giữ.

- Khi cấp cứu người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc khi người bị tạm giữ, người bị tạm giam đang mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A.

- Khi đang lấy lời khai, hỏi cung hoặc người bị tạm giữ, người bị tạm giam đang tham gia các hoạt động tố tụng khác.

- Người bị tạm giữ, người bị tạm giam không đồng ý thăm gặp. Trong trường hợp này, người thăm gặp được trực tiếp gặp người bị tạm giữ, tạm giam để xác nhận việc không đồng ý thăm gặp.

- Người đến thăm gặp cố ý vi phạm nội quy của cơ sở giam giữ, chế độ quản lý giam giữ từ hai lần trở lên.

- Người bị tạm giữ, tạm giam đang bị kỷ luật.

Ngoài ra, việc thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người nước ngoài được thực hiện theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo thỏa thuận quốc tế hoặc thỏa thuận về từng trường hợp cụ thể giữa Việt Nam với nước có người bị tạm giữ, tạm giam hoặc với tổ chức nhân đạo.

Về chế độ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam được Luật đặc biệt quan tâm và quy định cụ thể.

Đối với chế độ ăn, uống của người bị tạm giữ, người bị tạm giam được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng về gạo, rau, thịt, cá, đường, muối, nước chấm, bột ngọt, chất đốt, điện, nước sinh hoạt. Cơ sở giam giữ quyết định việc hoán đổi định lượng ăn cho phù hợp với thực tế để bảo đảm cho người bị tạm giữ, tạm giam ăn hết tiêu chuẩn. Ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật, người bị tạm giữ, người bị tạm giam được ăn thêm nhưng mức ăn không quá năm lần tiêu chuẩn ăn ngày thường. Định mức ăn của người bị tạm giữ được tính theo ngày trên cơ sở định mức ăn của người bị tạm giam do Nhà nước cấp và quy ra tiền theo thời giá thị trường ở địa phương nơi có cơ sở giam giữ. Luật cũng bảo đảm ưu tiên đối với người bị tạm giữ, tạm giam ốm đau, bệnh tật, thương tích do cơ sở giam giữ quyết định theo chỉ định của cơ sở y tế điều trị, nhưng không quá hai lần so với tiêu chuẩn ăn ngày thường. Để bảo đảm chế độ cho người bị tạm giữ, tạm giam là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, Luật cũng quy định được hưởng định mức ăn như người bị tạm giữ, người bị tạm giam khác và được ăn tăng thêm 30% định lượng về thịt, cá. Trường hợp người đó sinh con được thanh toán viện phí và bồi dưỡng bằng hiện vật trị giá tương đương 30 kg gạo tẻ loại trung bình. Ngoài tiêu chuẩn ăn họ còn được sử dụng quà, tiền gửi lưu ký để ăn thêm nhưng không quá ba lần tiêu chuẩn ăn ngày thường.

Người bị tạm giữ, tạm giam được sử dụng quần, áo, chăn, chiếu, màn và các đồ dùng cần thiết cho sinh hoạt của cá nhân, nếu thiếu thì cơ sở giam giữ cho mượn theo tiêu chuẩn mỗi người gồm: 01 chiếu, 01 màn cá nhân, 01 đôi dép, 02 bộ quần áo dài, 01 áo ấm mùa đông và 01 chăn (các cơ sở giam giữ từ thành phố Đà Nẵng trở vào dùng chăn sợi, từ tỉnh Thừa Thiên - Huế trở ra dùng chăn bông loại không quá 02 kg). Người bị tạm giữ được cấp 01 bàn chải đánh răng, kem đánh răng loại thường không quá 20g, 01 khăn rửa mặt. Người bị tạm giam được cấp 01 bàn chải đánh răng, kem đánh răng loại thường không quá 100g dùng trong 02 tháng, 01 khăn rửa mặt dùng trong 04 tháng, mỗi tháng được cấp 0,3 kg xà phòng giặt. Người bị tạm giữ, tạm giam là phụ nữ được cấp thêm đồ dùng cần thiết cho vệ sinh của phụ nữ giá trị tương đương 02 kg gạo tẻ loại trung bình/01 tháng.

Trẻ em dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ được bảo đảm định lượng ăn và được hoán đổi phù hợp với nhu cầu của trẻ. Trẻ được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 và được bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em theo quy định của Luật Trẻ em năm 2016. Trẻ em dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ được chăm sóc y tế, tiêm phòng theo quy định của Bộ Y tế, trường hợp bị bệnh nặng vượt quá khả năng điều trị của bệnh xá, cơ sở giam giữ làm thủ tục chuyển đến cơ sở y tế của Nhà nước để điều trị và cơ sở giam giữ quyết định việc trích xuất và áp giải người bị tạm giữ, người bị tạm giam là mẹ của trẻ đi cùng để chăm sóc. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm thanh toán chi phí thực tế trong việc khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ tại bệnh xá, bệnh viện trong cơ sở giam giữ và các cơ sở y tế của Nhà nước. Trường hợp trẻ em dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ chết, kinh phí an táng được thực hiện như đối với người bị tạm giữ, tạm giam chết.

Người bị tạm giữ, tạm giam được hưởng chế độ khám bệnh, chữa bệnh, phòng, chống dịch bệnh. Trường hợp bị ốm đau, bệnh tật, thương tích thì được khám và điều trị tại cơ sở y tế của cơ sở giam giữ; nếu bị bệnh nặng hoặc thương tích vượt quá khả năng của cơ sở giam giữ thì được chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp huyện, cấp tỉnh, bệnh viện quân đội hoặc bệnh viện trung ương khám, điều trị. Cơ sở giam giữ phải thông báo cho thân nhân hoặc đại diện hợp pháp của người đó biết để phối hợp chăm sóc, điều trị. Người bị tạm giữ, tạm giam được nhận thuốc chữa bệnh từ thân nhân và phải có đơn thuốc của thầy thuốc, chịu sự kiểm tra của cơ sở giam giữ. Đối với trường hợp có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì cơ sở giam giữ yêu cầu cơ quan đang thụ lý vụ án trưng cầu giám định pháp y tâm thần; khi có quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh của cơ quan có thẩm quyền, cơ quan đang thụ lý vụ án phối hợp với cơ sở giam giữ đưa họ đến cơ sở chữa bệnh.

Cơ sở giam giữ được trang bị hệ thống truyền thanh; trung bình hai mươi người bị tạm giữ, tạm giam hoặc cơ sở giam giữ có dưới hai mươi người bị tạm giữ, tạm giam được cấp một tờ báo địa phương hoặc báo trung ương. Cơ sở giam giữ tổ chức cho người bị tạm giữ, tạm giam nghe đài phát thanh, đọc báo, nếu có điều kiện thì tổ chức cho họ xem chương trình truyền hình địa phương và trung ương

Chế độ đối với người bị tạm giữ, tạm giam là người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Người bị tạm giữ, tạm giam là người dưới 18 tuổi được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng ăn như người bị tạm giữ, tạm giam đã thành niên và được tăng thêm về thịt, cá nhưng không quá 20% so với định lượng và được bố trí giam giữ riêng.

Trường hợp là phụ nữ có thai được bố trí nơi ở hợp lý, được khám thai, được chăm sóc y tế, được hưởng chế độ ăn uống bảo đảm sức khỏe; nếu sinh con thì được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng ăn theo chỉ dẫn của y sĩ hoặc bác sĩ, được cấp thực phẩm, đồ dùng, thuốc men cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh, được bảo đảm thời gian cho con bú trong thời gian nuôi con bằng sữa mẹ. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm làm thủ tục đề nghị đăng ký khai sinh. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở giam giữ đóng trụ sở có trách nhiệm đăng ký và cấp giấy khai sinh. Nếu họ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 03m2. Cơ sở giam giữ phải tổ chức việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 36 tháng tuổi. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có con từ đủ 36 tháng tuổi trở lên phải gửi con về cho thân nhân nuôi dưỡng; trường hợp không có thân nhân nhận nuôi dưỡng thì thủ trưởng cơ sở giam giữ đề nghị sở lao động - thương binh và xã hội nơi có cơ sở giam giữ chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng.

Người bị kết án tử hình đang bị tạm giam được hưởng chế độ ăn, mặc, sinh hoạt, chăm sóc y tế, nhận quà, gửi, nhận thư, sách, báo, tài liệu như người bị tạm giam khác và việc thăm gặp phải bảo đảm tuyệt đối an toàn. Cơ sở giam giữ phải bảo đảm cho người bị kết án tử hình thực hiện quyền kháng cáo, quyền đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, quyền xin ân giảm án tử hình theo quy định của pháp luật. Trường hợp người bị kết án tử hình có quyết định ân giảm xuống tù chung thân hoặc có bản án giảm xuống tù chung thân, tù có thời hạn thì thủ trưởng cơ sở giam giữ chuyển người đó đến nơi giam giữ người chờ chấp hành án phạt tù. Trường hợp hủy án để điều tra lại thì thủ trưởng cơ sở giam giữ chuyển người bị kết án tử hình đến buồng tạm giam để phục vụ hoạt động điều tra. Cơ sở giam giữ trả lại tiền, tài sản gửi lưu ký, đồ dùng cá nhân của người đã bị thi hành án tử hình cho thân nhân hoặc người được ủy thác của người đó. Trại tạm giam phải tổ chức buồng riêng hoặc khu riêng để giam giữ người bị kết án tử hình. Trong quá trình quản lý tạm giam người bị kết án tử hình, nếu xét thấy họ có biểu hiện bỏ trốn, tự sát hoặc có hành vi nguy hiểm khác thì thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định việc cùm một chân và tổ chức theo dõi, quản lý, ngăn ngừa.

Quyền bầu cử của người bị tạm giữ, tạm giam được thực hiện theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật Trưng cầu ý dân. Đây là quy định mới, chưa từng có tiền lệ. Thực tế, theo quy định của pháp luật thì người bị tạm giữ, tạm giam chưa được xem là có tội, chỉ khi nào có bản án của tòa án và bản án này có hiệu lực pháp luật thì khi đó họ mới được coi là có tội. Do đó, trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam họ được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi họ đang bị tạm giữ, tạm giam là hoàn toàn hợp lý, là bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân.

Về khiếu nại, tố cáo. Người bị tạm giữ, tạm giam có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Họ cũng có quyền tố cáo với cơ quan, người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người có thẩm quyền nào trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam phải chuyển tố cáo cho viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được tố cáo.

Để Luật THTGTG được thi hành hiệu quả trên thực tế, góp phần nâng cao quyền con người trong công tác tạm giữ, tạm giam, theo chúng tôi, cần thực hiện một số biện pháp sau đây:

Thứ nhất, cần quán triệt và thể chế hoá đầy đủ các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước về thực hiện chế độ tạm giữ, tạm giam; đặt trong tổng thể và bảo đảm đồng bộ với quá trình cải cách bộ máy nhà nước, cải cách tư pháp, cải cách hành chính ở nước ta. Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam; bảo đảm các quy định của Luật có tính khả thi.

Thứ hai, tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật THTGTG và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật nhằm nâng cao trách nhiệm, thống nhất nhận thức cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ làm công tác tạm giữ, tạm giam; cán bộ làm công tác điều tra, xét xử, cán bộ làm công tác giảng dạy, nghiên cứu pháp luật và cho nhân dân. Tiến hành biên soạn, in, cấp phát sách, tài liệu, tổ chức tập huấn chuyên sâu về Luật THTGTG cho lãnh đạo, cán bộ, chiến sĩ cơ quan, đơn vị làm công tác tham mưu, trực tiếp làm công tác tạm giữ, tạm giam; cán bộ làm công tác điều tra tội phạm. Rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật về tạm giữ, tạm giam. Xây dựng, triển khai thi hành các văn bản quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật THTGTG.

Thứ ba, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam của một số nước trên thế giới phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam; bảo đảm phù hợp với pháp luật, thông lệ và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Trần Tuyết Trinh