Thứ sáu, 12/10/2018 | 07:33 GMT+7

Người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự

LSVNO - Việc xác định người đại diện theo pháp luật cho đương sự trong tố tụng dân sự rất quan trọng, vì việc này góp phần bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, quy định pháp luật xoay quanh vấn đề này vẫn còn bất cập về người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự; về sự tự nguyện trong quan hệ đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự và việc xác định đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự.

dd-5bbfeb94e3b26

Ảnh minh họa.

Trong bài viết này, tác giả muốn trao đổi về một số bất cập trong quy định pháp luật về người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự.

Thứ nhất, quy định không tách bạch về sự tham gia của người đại diện theo pháp luật trong pháp luật dân sự và pháp luật tố tụng dân sự. Luật tố tụng dân sự và luật dân sự có mối tương quan nhất định vì cùng nằm trong một hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, xét về bản chất, đối tượng điều chỉnh của hai ngành luật là khác nhau, nên hai ngành luật phải có quy định riêng, đặc biệt là trong vấn đề xác định người đại diện theo pháp luật cho đương sự trong tố tụng dân sự.

Đối với ngành luật dân sự, khi quan hệ dân sự được xác lập sẽ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể trên cơ sở tự do ý chí, tự nguyện, bình đẳng, tự chịu trách nhiệm. Tại thời điểm chưa xác lập quan hệ dân sự, có thể giữa các chủ thể chưa phát sinh nghĩa vụ gì với nhau. Cho nên, để xác lập quan hệ dân sự, chủ thể phải có khả năng nhận thức được tầm quan trọng của loại quan hệ dân sự mà mình sẽ xác lập, vì có thể quan hệ đó sẽ đưa chủ thể từ vị trí không phải thực hiện nghĩa vụ với ai, trở thành người có nghĩa vụ đối với chủ thể khác, hoặc là, từ một chủ thể đang có nghĩa vụ với người khác thì nghĩa vụ đó bị thay đổi hoặc chấm dứt. Do vậy, khả năng nhận thức cần phải xác định chi tiết theo độ tuổi, theo thể trạng và sức khỏe.

Ngành luật tố tụng dân sự là một ngành luật có đối tượng, mục đích điều chỉnh khác so với ngành luật dân sự. Mặc dù quan hệ pháp luật tố tụng dân sự phát sinh dựa trên cơ sở của quan hệ dân sự, nhưng điều này không có nghĩa việc xác định năng lực nhận thức để tham gia tố tụng dân sự phải giống với năng lực nhận thức khi tham gia quan hệ dân sự. Hay, không phải trường hợp nào tham gia quan hệ dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật thì cũng phải tham gia tố tụng dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật. Bởi lẽ, khi quan hệ tố tụng phát sinh tức là lúc này các chủ thể cần được tòa án bảo vệ quyền dân sự (Điều 11 và Điều 14 Bộ luật Dân sự 2015) chứ không phải là xác lập, thay đổi hay chấm dứt quan hệ dân sự. Khi yêu cầu tòa án bảo vệ quyền dân sự, tức là lúc đó quyền và lợi ích của chủ thể đang bị người khác xâm phạm. Song, Bộ luật Tố tụng dân sự lại xác định sự tham gia tố tụng của đương sự, đặc biệt là đối với cá nhân, phụ thuộc vào năng lực hành vi dân sự. Điều này hoàn toàn không hợp lý. Cụ thể, Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khi xác định năng lực hành vi tố tụng dân sự của cá nhân đã dựa vào năng lực hành vi dân sự mà phân chia. Rõ ràng, mỗi một loại quan hệ pháp luật thì năng lực chủ thể phải có sự khác nhau tùy theo loại quan hệ pháp luật đó là gì. Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã nêu tất cả các trường hợp năng lực hành vi dân sự và xác định khả năng tham gia tố tụng dân sự của từng loại. Điều này tạo ra nhiều hậu quả, làm cho người đọc dễ hiểu lầm là Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đang đánh đồng năng lực hành vi tố tụng dân sự với năng lực hành vi dân sự; không xác định rõ ràng khả năng tham gia tố tụng của cá nhân, cụ thể:

- Khoản 3 Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định đương sự từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác. Cách quy định này hoàn toàn giống cách lập luận ở Điều 20 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, người thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Điều này tạo nên cách hiểu, người có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ giống với người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Hoặc là, tại khoản 4, 5, 6 Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã tách người chưa đủ 6 tuổi và người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi thành hai trường hợp riêng để xác định năng lực hành vi tố tụng, giống như khoản 2, 3 và 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015. Việc tách ra ở Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là không cần thiết, bởi lẽ trong tố tụng dân sự, xét về năng lực hành vi tố tụng dân sự chỉ có hai loại: có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ và không có năng lực hành vi tố tụng dân sự, không tồn tại loại năng lực hành vi tố tụng dân sự không đầy đủ.

Do vậy, Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 không cần quy định thành 3 khoản (3, 4, 5) mà nội dung quy định tại 3 khoản này không có gì khác nhau: khoản 4 quy định người chưa đủ 6 tuổi tham gia tố tụng thông qua người đại diện, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ do người đại diện thực hiện; khoản 5 quy định người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi cũng tham gia tố tụng thông qua người đại diện, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ do người đại diện thực hiện; khoản 6 quy định người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi tự mình tham gia tố tụng trong trường hợp tham gia lao động bằng hợp đồng lao động hoặc trường hợp giao dịch bằng tài sản riêng, còn các giao dịch khác thì cũng phải tham gia tố tụng thông qua người đại diện.

Tóm lại, nếu là người chưa thành niên thì sẽ tham gia tố tụng thông qua người đại diện. Vì vậy, không cần thiết phải chia nhỏ năng lực hành vi tố tụng dân sự theo năng lực hành vi dân sự rồi bắt buộc tham gia tố tụng thông qua người đại diện cho từng trường hợp.

- Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng chưa xác định rõ khả năng tham gia tố tụng của cá nhân là người hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Hai loại chủ thể này thì khả năng tham gia tố tụng dân sự được xác định theo phán quyết của tòa án. Tuy nhiên, không có một quy chuẩn nào để tòa án xác định khả năng tham gia tố tụng của họ.

Nhìn chung, ngành luật tố tụng dân sự và ngành luật dân sự có thể có mối tương quan trong chừng mực nhất định khi xác định năng lực chủ thể. Tuy nhiên, ngành luật tố tụng dân sự cần có thêm quy định đặc thù khi quy định về năng lực hành vi tố tụng dân sự để tránh sự chồng chéo, bất cập từ hai ngành luật.

Thứ hai, bất cập trong quy định pháp luật về việc tham gia tố tụng thông qua người đại diện theo pháp luật của đương sự trong việc dân sự trong trường hợp hủy quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, quyết định tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, quyết định tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Trong thủ tục giải quyết việc dân sự, có thủ tục yêu cầu tòa án tuyên bố hủy quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, một người hạn chế năng lực hành vi dân sự và hủy quyết định tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Khi đó, quy định pháp luật về việc tham gia tố tụng của đương sự tồn tại nhiều vướng mắc.

Quy định tại Điều 379 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về việc hủy quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, có mâu thuẫn với quy định tại Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Theo Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành vi tố tụng dân sự do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. Đối với người hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi cũng tham gia tố tụng thông qua người đại diện theo pháp luật. Trong khi đó, việc yêu cầu tòa án hủy quyết định là một quyền tố tụng dân sự. Do vậy, theo quy định, việc yêu cầu hủy các quyết định này phải do người đại diện theo pháp luật thực hiện. Tố tụng là ngành luật hình thức, phải tuân thủ trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Cho nên, khi không có ngoại lệ thì phải tuân thủ quy định chung. Vì vậy, khi giải quyết việc dân sự vẫn phải áp dụng Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xác định năng lực chủ thể của đương sự. Song, như vậy thì không hợp lý do không bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích của người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Đồng thời, trong quá trình xét hủy quyết định tuyên bố một người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, hạn chế năng lực hành vi dân sự bắt buộc phải có người đại diện hợp pháp của họ tham gia. Lúc này, việc xác định tư cách chủ thể cũng gặp khó khăn. Đương sự trong việc dân sự, bao gồm người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự. Nếu như chính người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi tự yêu cầu hủy quyết định thì họ chính là người yêu cầu. Khi đó, người đại diện hợp pháp của họ sẽ trở thành người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự. Trong trường hợp này, người đại diện hợp pháp của họ vừa là người đại diện của đương sự, vừa là đương sự. Theo Điều 87 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khi người đại diện của đương sự vừa là đương sự thì tòa án căn cứ Điều 88 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để chỉ định người đại diện tạm thời cho đương sự trong tố tụng dân sự. Vấn đề đặt ra là có cần phải tiến hành những thủ tục rườm rà, gây tốn thời gian cho đương sự như vậy hay không? Ngoài ra, nếu như chỉ định một người đại diện tạm thời cũng kéo theo việc đem một người khác vào quan hệ tố tụng, gây mất thời gian, công sức của họ khi không cần thiết. Theo người viết, chỉ cần người mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có đủ chứng cứ để yêu cầu tòa án hủy quyết định thì có thể tự mình tham gia tố tụng. Nếu thấy cần thiết, tòa án có thể trưng cầu giám định để kiểm tra sức khỏe, tâm thần kinh của đương sự. Do vậy, có thể xem loại việc hủy quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là một trường hợp đặc thù, cần có quy định đặc biệt hơn so với các yêu cầu dân sự khác.

Thứ ba, giữa Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về sự tham gia tố tụng của doanh nghiệp tư nhân có mâu thuẫn và còn nhiều nội dung không minh bạch.

Khoản 7 Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng thông qua người đại diện. Doanh nghiệp tư nhân là tổ chức và có người đại diện theo pháp luật là chủ doanh nghiệp. Như vậy, nếu căn cứ vào quy định trên thì doanh nghiệp tư nhân phải tham gia tố tụng thông qua người đại diện theo pháp luật, tức là chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ là người đại diện, còn doanh nghiệp mới là đương sự. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 185 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các tranh chấp liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, giữa hai đạo luật quy định không thống nhất về sự tham gia tố tụng của doanh nghiệp tư nhân. Mặt khác, việc quy định chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân cũng không hợp lý. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn về nghĩa vụ tài sản bằng toàn bộ tài sản của mình. Đồng thời, doanh nghiệp tư nhân cũng không có tư cách pháp nhân. Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân cũng nhân danh chính mình tham gia giao dịch với chủ thể khác. Cho nên, không cần thiết phải quy định chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Nguyễn Văn Hậu